10 Tôn Giáo Lớn Trên Thế Giới

0 242

Cuốn sách là một sản phẩm giá trị đối với độc giả muốn am hiểu về các tôn giáo

Giới thiệu sách 10 Tôn Giáo Lớn Trên Thế Giới

10 Tôn Giáo Lớn Trên Thế Giới
10 Tôn Giáo Lớn Trên Thế Giới
Mua sách tại Vinabook

Tôn giáo là một hiện tượng lịch sử – xã hội, có quá trình ra đời và phát triển.

Trong thời kỳ đầu tồn tại, cách đây từ một đến hai triệu năm, loài người chưa có quan niệm về thần, cũng chưa có tôn giáo. Chỉ khi sức sản xuất xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định; bộ óc, bàn tay và công cụ lao động của con người ngày càng hoàn thiện; năng lực tư duy trừu tượng của con người xuất hiện một số khái niệm nào đó, con người mới sùng bái thần linh, tôn giáo mới xuất hiện.

Cuốn sách 10 tôn giáo lớn trên thế giới của tác giả Hoàng Tâm Xuyên được biên soạn công phu, khoa học, tập hợp rất nhiều tư liệu có giá trị đem đến cái nhìn tổng quan về 10 tôn giáo lớn trên thế giới.

Cuốn sách tập trung khái quát bối cảnh ra đời, quá trình phát triển, phân phái, những kinh điển cơ bản, các nghi thức tế tự,… của 10 tôn giáo lớn trên thế giới sẽ giúp độc giả có một cách nhìn tổng quan về lịch sử hình thành tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống tinh thần của nhân loại.

+ ĐÁNH GIÁ:

“… Tôn giáo có sức mạnh rất lớn trong tiềm thức của con người. Do đó, nghiên cứu tôn giáo có ý nghĩa rất lớn trong việc hướng con người đến những giá trị đạo đức tốt đẹp, giúp ổn định xã hội.

Cuốn sách 10 tôn giáo lớn trên thế giới tuy mới chỉ đưa ra những nội dung cơ bản về một số tôn giáo nhưng có thể giúp bạn đọc rút ra những so sánh rõ nét hơn trong quá trình nghiên cứu tôn giáo.

Cuốn sách là một sản phẩm giá trị đối với độc giả muốn am hiểu về các tôn giáo.”

– Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á

Đọc trước 10 Tôn Giáo Lớn Trên Thế Giới

Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội, tôn giáo được coi là ngành khoa học gây nhiểu tranh luận nhãt. Mọi tổ chức xã hội cùng các trường phái học thuật đại diện cho họ đểu đưa ra hàng loạt định nghĩa vế tôn giáo.

Trong giới học thuật phương Tây hiện nay có những nhân vật đáng chú ý là: J.G.Frech cho rằng, tôn giáo “như mọi người nhận thức, là một thứ quyển lực cao hơn con người dế mưu cầu điểu thiện, quyển lực đó được tôn sùng là lực lượng chi phói tự nhiên và đời sống con người”; spencer cho rằng, tôn giáo là tín ngưỡng vể một lực lượng nào đó vượt lên trên sự nhận thức của con người; Makhơta nhấn mạnh, tôn giáo là sự mưu cầu của nhân sinh đối với điểu thiện, là một loại tình cảm của con người mong muón có sự hài hòa với vũ trụ. Một só nhà thần học Cơ đốc giáo còn khái quát thành “mói quan hệ qua lại giữa người và thần”.

Nhưng trong những tổ chức mang danh nghĩa là chủ nghĩa Mác lại có những cách nhìn khác biệt, thậm chí đối lập vể tôn giáo. Plêkhanốp cho rằng, tôn giáo là “hệ thống nghiêm ngặt, hoặc ít hoặc nhiểu, của mọi quan niệm, tình cảm, hành động”. Cauxky nói: “Có thể quy các định nghĩa vể tôn giáo thành hai loại chính… Một là, tôn giáo biểu thị trạng thái tinh thần cá nhân con người, cá tính siêu việt, lợi ích nhẫt thời của con người cùng tàn dư đạo đức duy tâm chủ nghĩa.

Hai là, nhiểu người hiểu tôn giáo là một hiện tượng lịch sử phố biến, một thế giới quan không xuất phát từ kinh nghiệm bản thân, mà xuẫt phát từ sự tôn sùng một thứ quyển uy ngự trị trên đầu họ khiến nó trở thành nguyên tắc chỉ đạo trong tư tưởng và hành động”. Những

định nghĩa trên đây tuy miêu tả và giải thích một số hình thức, nội dung của tôn giáo từ những lập trường và góc độ khác nhau, song vl quá khuếch đại hoặc nhấn mạnh đến các nhân tố hay các phương diện cãu thành tôn giáo, cường diệu một cách quá đáng nên tất cả đểu trở nên thiếu toàn diện hoặc sai lầm.

Trước tiến, Mác, Ãngghen đã đưa chủ nghĩa duy vật biện chứng vào lĩnh vực lịch sử – xã hội, dưa tôn giáo từ trên trời xuống đất. Các ông đã thuyết minh một cách khoa học vế bản chất, vai trò và quy luật diẽn biến của tôn giáo, cho chúng ta chìa khóa bước vào lĩnh vực nghiên cứu và tìm hiểu những vấn để vể tôn giáo. Những người theo chủ nghĩa duy vật lịch sử cho rằng, tôn giáo là một loại hình thái ý thức xã hội, là sự phản ánh một cách xuyên tạc và lộn ngược vào tư tưởng con người những lực lượng tự nhiên, xã hội đang thỗng trị họ. Họ tin rằng, ngoài thế giới hiện thực còn có sự tổn tại của lực lượng siêu nhiên chi phói và ảnh hưởng đén vận mệnh của con người.

Tôn giáo không chỉ là quan niệm, tình cảm… thuộc hình thái ý thức xã hội, mà còn là một tổ chức hoặc thực thể xã hội, bao gổm các tổ chức, nghi thức, quy chế… của tôn giáo. Mọi quan niệm vể tôn giáo và các tó chức, thiết chế tôn giáo đểu được sinh ra từ những hoạt động sản xuât và điểu kiện sống nhất định trong xã hội và thay đổi theo những thay đổi vể cơ sở kinh tế. Sau khi ra đời, tôn giáo có ảnh hưởng nhất định đến các tổ chức chính trị, chế độ luật pháp, vàn học nghệ thuật, thói quen đạo đức, v.v. của một dân tộc hay quốc gia trong thời kỳ tương ứng.

Tôn giáo là một hiện tượng lịch sử – xã hội, có quá trinh ra đời, phát triển và tiêu vong. Trong thời kỳ đầu tồn tại, cách đây từ một đến hai triệu năm, loài người chưa có quan niệm vé thần, cũng chưa có tôn giáo. Chỉ khi sức sản xuất xã hội phát triến dến một giai đoạn nhát định, bộ óc, bàn tay và công cụ lao dộng của con người ngày càng hoàn thiện, nâng lực tư duy trừu tượng của con người xuất hiện một sỗ khái niệm nào đó, con người mới sùng bái thần linh, tôn giáo mới xuãt hiện. Nhưng khảo có học và nhân loại học dã chứng minh, trước khi

tôn giáo ra đời cũng đã có hiện tượng tiển tôn giáo hay mầm móng tôn giáo trong xã hội nguyên thủy. Chẳng hạn, người nguyên thủy có một cảm giác bản năng rằng, mọi sự vật xung quanh (động vật, thực vật, sông, núi) đểu có cuộc sống như mình, trong cõi vô minh có thê’ giúp đỡ mình. Đương nhiên, cảm giác này đủ làm cho con người có quan niệm linh hổn mang tính siêu nhiên. Ngoài ra, để đạt tới mục đích đã định củng cần phải sử dụng những pháp thuật nguyên thủy.

Hiện nay, trong giới học giả vẫn còn cách phân chia khác nhau về quá trình phát triển của lịch sử tôn giáo. Có người dựa vào điểm khởi đầu và các giai đoạn biến đổi của tôn giáo để phân thành: tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo cổ đại, tôn giáo lịch sử (bao gồm tôn giáo thê’ giới), tôn giáo cận hiện đại; có người dựa vào phạm vi truyển giáo để phân thành tôn giáo thị tộc – bộ tộc, tôn giáo dân tộc, tôn giáo quốc gia, tôn giáo thế giới; có người dựa vào tính chất, vị trí, sự biến đổi… của thần linh dược sùng bái để phân thành da thần giáo, nhị thần giáo, nhát thần giáo, giao hoán thần giáo (trao đổi thần giáo); cũng có người dựa vào chức nàng xã hội của tôn giáo để phân thành tôn giáo tự phát, tôn giáo nhân vị, V.V.. Mỗi cách phân chia đểu có lý do của nó nhưng cũng có những giới hạn nhất định. Phân loại tôn giáo, ngoài việc căn cứ vào những hình thái phát triển xã hội khác nhau còn phải suy xét tới đặc điểm khác nhau của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia cũng như tình hình phát triển của bản thân tôn giáo.

Nhìn chung, lịch sử phát triển tôn giáo trên phạm vi thế giới có thể chia làm bốn giai đoạn: tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo cổ đại, tôn giáo trung dại, tôn giáo cận hiện dại. Có thế nói một cách khái quát như sau:

TÔN GIÁO NGUYÊN THỦY

Dựa vào khai quật khảo cổ, người ta xác định tôn giáo xuất hiện vào khoảng từ 1 vạn đến 3 vạn năm trước Công nguyên, thời hậu kỳ

đổ đá giữa hoặc muộn hơn một chút. Nhìn chung, tôn giáo nguyên thủy ỉà tôn giáo thị tộc nguyên thủy. Trong cuộc đấu tranh gay gắt với tự nhiên, người nguyên thủy thấy mỗi bước đi của mình đều gặp phải những hiện tượng lạ không thể giải thích nổi. Chẳng hạn như sấm chớp, gỉấc mơ, bệnh tật, chết chóc, V.V..

Do con người không hiểu đúng được những hiện tượng tự nhiên đó nên sinh ra lo sợ. Họ nhận thức sai lầm rằng, xung quanh họ tôn tại một lực lượng siêu nhiên chi phói họ trong mọi lĩnh vực. Chỉ có dùng các nghi lễ như cúng bái, tế lễ hay ma thuật, tụng niệm, nhảy múa… mới cổ thể tai qua nạn khỏi, giữ cho dời sống và sản xuất được thuận buổm xuôi gió, từ dó xuất hiên tôn giáo nguyên thủy.

Tôn giáo nguyên thủy có những hình thức khác nhau ở từng vùng, trong từng giai đoạn phát triển khác nhau, nhưng chung quy cũng chỉ có hai loại: một là, trực tiễp thờ cúng lực lượng tự nhiên hoặc các vật tự nhiên có liên quan mật thiết đến đời sống con người như sông núi, nước, lửa, mặt trời, mặt trăng, động vật, thực vật… hay nhân cách hóa chúng thành thần linh để thờ cúng; hai là thờ cúng những sinh linh hay linh hồn dược tưởng tượng ra, tách rời thể xác con người.

Hai loại cúng tế này được biểu hiện dưới các hình thức như: cúng ma quỷ, tổ linh (phần lớn là người đứng đầu thị tộc hoặc người có công lao đặc biệt), tô tem, ngẫu tượng (thờ cúng những vật có công năng dặc biệt), V.V.. Ngoài ra, như trên đã nói, cùng với việc thờ cúng còn xuầt hiện các nghi thức khác như thuật phù thủy, ma thuật, cầm kỵ tôn giáo (tabu)…

Sau này, cùng với sự ra đời của tôn giáo có tổ chức còn xuất hiện đển, miếu hoặc người chuyên trông coi, duy trì các nghi thức tôn giáo hay công việc cúng tế. Đển, mỉếu hoặc những người dổ được coi là “đại diện của thần linh” hay “nhân vật trung gian giữa thần linh và con người”, góp phân quan trọng vào việc xây dựng và củng có

Tồ tem là một trong những hình thức tôn giáo đầu tiên của xã hội nguyên thủy. Người nguyên thủy quan niệm rằng có một loại động vật hoặc một vật tự nhiên nào đó có quan hệ huyết thống với thị tộc của mình, và họ thờ vật đó tượng trứng cho tố tiên của mình, gọi là tô tem (ND).